|
|
Dưới đây là tiểu sử chính thức của Mẹ Têrêsa thành Calcutta sẽ được Đức Hồng
Y Angelo Amato, là Tổng trưởng bộ Tuyên Thánh, đọc trước Đức Thánh Cha
Phanxicô trong thánh lễ tại quảng trường Thánh Phêrô lúc 10h25 sáng Chúa
Nhật.
Têrêsa Calcutta, nhủ danh Gonxha Bojaxhiu Agnes, sinh tại Skopje, Albania,
ngày 26 Tháng Tám năm 1910, là người con thứ năm và cũng là con út của ông
bà Nikola và Drane Bojaxhiu. Cô đă được rửa tội vào ngày hôm sau và được
rước lễ lần đầu khi lên năm tuổi rưỡi. Từ thời điểm đó trở đi, tâm hồn cô
tràn ngập t́nh yêu dành cho các linh hồn.
Năm 1928, với mong muốn được phục vụ như là một nhà truyền giáo, cô bước vào
Tu hội Chị em Loreto ở Ireland. Năm 1929, cô đến Ấn Độ, và khấn lần đầu vào
tháng 5 năm 1931 và khấn trọn vào tháng Năm năm 1937. Trong suốt hai mươi
năm sau đó, cô đă giảng dạy ở Ấn Độ, và được nhiều người biết đến v́ ḷng
bác ái, ḷng nhiệt thành, sự tận tâm và sự vui tươi.
Ngày 10 tháng 9 năm 1946, cô nhận được từ Chúa Giêsu lời mời gọi “để lại tất
cả mọi thứ phía sau và phục vụ Ngài nơi những người nghèo nhất trong số
những người nghèo”. Năm 1948, cô nhận được sự cho phép của Giáo Hội để bắt
đầu sứ vụ tông đồ của ḿnh trong các khu ổ chuột của thành phố Calcutta.
Ḍng Thừa Sai Bác Ái đă trở thành một Tu Hội của giáo phận vào ngày 07 tháng
10 năm 1950, và đă được nâng lên thành một Tu Hội giáo hoàng vào ngày 1
tháng 2 năm 1965. Đặc sủng riêng của Tu Hội là để thỏa măn cơn khát vô hạn
của Chúa Giêsu đối với t́nh yêu và đối với các linh hồn bằng cách hoạt động
cho sự cứu rỗi và sự thánh thiện của những người nghèo nhất trong những
người nghèo.
Để mở rộng sứ mệnh t́nh yêu này, Mẹ Têrêsa đă mở thêm các nhánh khác bao gồm
ḍng các Tu huynh Thừa Sai Bác Ái, vào năm 1963, ḍng các nữ tu sĩ chiêm
niệm vào năm 1976, ḍng các Tu huynh chiêm niệm (1979), và ḍng các Cha Thừa
Sai Bác Ái vào năm 1984, cũng như các Hiệp hội các cộng tác viên, Hiệp hội
các cộng sự viên đồng lao cộng khổ, và phong trào Corpus Christi cho các
linh mục.
Tại thời điểm Mẹ Têrêsa qua đời vào ngày 05 tháng Chín năm 1997, ḍng có đến
3,842 chị em làm việc tại 594 nhà ở tại 120 quốc gia. Mặc dù, phải chịu đựng
một kinh nghiệm đau đớn của bóng tối nội tâm, Mẹ Têrêsa đă đi khắp mọi nơi,
có liên quan, như Đức Maria trong tŕnh thuật Thăm Viếng [bà Elizabeth], để
truyền bá t́nh yêu của Chúa Giêsu trên khắp thế giới. Do đó, Mẹ đă trở thành
một biểu tượng của dịu dàng và t́nh yêu thương xót của Thiên Chúa cho mọi
người, đặc biệt là đối với những người không được yêu thương, bị khước từ và
bỏ rơi. Từ trên Thiên Đàng, Mẹ tiếp tục “thắp lên một ánh sáng cho những
người sống trong bóng tối trên trái đất này.”
Phụ lục: Dưới
đây là bản tiểu sử của Mẹ Têrêsa, dài hơn, đă được Đức Hồng Y José Saraiva
Martins, Tổng Trưởng Bộ Tuyên Thánh (1998-2008) đọc trước Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II trong lễ tuyên phong Chân Phước ngày 19 tháng 10 năm 2003.
“Về huyết
thống th́ tôi là người Albany. Theo tính cách công dân th́ tôi là một người
Ấn Độ. Về phương diện đức tin th́ tôi là một nữ tu Công Giáo. Theo ơn gọi
của ḿnh th́ tôi thuộc về thế giới. Với tâm hồn của ḿnh th́ tôi hoàn toàn
thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu”.
Với một thân ḿnh nhỏ con, và một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêsa Calcutta được ủy
thác cho sứ mạng truyền bá t́nh yêu khát khao của Thiên Chúa cho nhân loại,
nhất là cho thành phần nghèo nhất trong các thành phần nghèo khổ. “Thiên
Chúa vẫn yêu thương thế gian và Ngài gửi các chị em và tôi đến với người
nghèo như là t́nh yêu Ngài và ḷng xót thương của Ngài”. Mẹ là một tâm hồn
đầy tràn ánh sáng Chúa Kitô, cháy lửa mến yêu Người và bừng bừng một ước
mong duy nhất đó là “làm giảm bớt cơn khát yêu thương các linh hồn của
Người”.
Vị sứ giả sáng láng này của t́nh yêu Thiên Chúa chào đời ngày 26/8/1910 ở
Skopje, Albania, một thành phố tọa lạc ở giao điểm lịch sử Balkan. Mẹ là con
út của ông bà Nikola và Drane Bojaxhiu, được rửa tội với tên là Gonxha
Agnes, được Rước Lễ Lần Đầu lúc 5 tuổi rưỡi và chịu phép Thêm Sức vào tháng
11/1916. Từ ngày Rước Lễ Lần Đầu, t́nh yêu các linh hồn đă triển nở trong
tâm hồn bé. Bé mất cha bất ngờ khi mới lên tám. Bà mẹ góa kiên cường nuôi
con cái, và đă ảnh hưởng rất nhiều đến tính nết và ơn gọi của bé. Ngoài ra,
đời sống đạo của bé cũng được nâng đỡ bởi vị linh mục Ḍng Tên coi xứ Thánh
Tâm là nơi bé sinh hoạt nữa.
Vào năm 18 tuổi, được thúc đẩy bởi ư định trở thành một nhà truyền giáo, cô
Gonxha đă từ giă gia đ́nh vào tháng 9/1928 để dâng ḿnh cho Chúa trong Ḍng
Trinh Nữ Maria, tức tu hội Nữ Tu Loreto ở Ái Nhĩ Lan. Tại đây chị được đặt
tên là Nữ Tu Maria Têrêsa theo Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Vào tháng 12
cùng năm, chị lên đường đi Ấn Độ, tới Calcutta ngày 6 tháng Giêng năm 1929.
Sau khi khấn lần đầu vào tháng 5/1931, Nữ Tư Têrêsa được chỉ định đến cộng
đồng Loreto Entally ở Calcutta và dạy học ở Trường Thánh Maria phái nữ. Vào
ngày 24/5/1937 chị khấn trọn, để trở thành, như chị nói, “hôn thê của Chúa
Giêsu” cho “đến muôn đời bất tận”. Từ đó trở đi, chị được gọi là Mẹ Têrêsa.
Mẹ tiếp tục dạy học ở Trường Thánh Maria và làm hiệu trưởng của trường này
vào năm 1944. Là một con người ch́m đắm trong cầu nguyện và hết sức yêu
thương chị em ḍng cũng như học sinh của ḿnh, 20 năm sống trong ḍng
Loreto, Mẹ cảm thấy thật là hạnh phúc. Nổi tiếng là bác ái, vị tha và can
đảm, chịu khó và có óc tổ chức, Mẹ đă sống trọn cuộc sống tận hiến của ḿnh
cho Chúa Giêsu, giữa chị em đồng tu, một cách trung thành và vui vẻ.
Vào ngày 10/9/1946, trên chuyến xe lửa từ Calcutta tới Darjeeling để dự tuần
cấm pḥng hằng năm, Mẹ Têrêsa đă được “ơn linh hứng”, một “ơn gọi trong ơn
gọi” của Mẹ. Hôm ấy, Mẹ đă ở trong một trạng thái mà Mẹ không bao giờ giải
thích được, là cơn khát yêu thương các linh hồn của Chúa Giêsu chiếm đoạt
tâm hồn Mẹ, và ước muốn làm nguôi cơn khát của Người trở thành mănh lực chi
phối cuộc sống của Mẹ. Những tháng ngày sau đó, qua những thị kiến nội tâm,
Chúa Giêsu đă tỏ cho Mẹ biết ư của Trái Tim Người muốn có “những chứng nhân
t́nh yêu”, là những người “chiếu tỏa t́nh yêu của Người trên các linh hồn”.
Người đă nài xin Mẹ: “Hăy đến để làm ánh sáng của Cha. Cha không thể đi một
ḿnh”.
Người đă tỏ cho Mẹ biết cái đau đớn của Người nơi thành phần nghèo khổ bị bỏ
rơi, niềm sầu thương của Người ở chỗ vô tri của họ và niềm khát vọng được họ
yêu mến. Người đă xin Mẹ Têrêsa hăy thành lập một cộng đoàn tu tŕ, Ḍng
Thừa Sai Bác Ái, dấn thân phục vụ thành phần nghèo nhất trong các người
nghèo. Mẹ mất gần hai năm trời để trắc nghiệm và phân định trước khi bắt đầu
khởi sự. Vào ngày 17/8/1948, lần đầu tiên Mẹ mặc bộ sari trắng viền xanh
dương và bước qua cổng tu viện Loreto thân yêu để tiến vào thế giới người
nghèo.
Sau một khóa huấn luyện ngắn với Các Nữ Tu Thừa Sai Y Khoa ở Patna, Mẹ
Têrêsa trở về Calcutta và t́m một nơi cư trú tạm thời với Các Sư Tỷ Nghèo.
Vào ngày 21/12 lần đầu tiên Mẹ đi đến những khu nhà ổ chuột. Mẹ đă viếng
thăm các gia đ́nh, rửa các vết ghẻ lở cho một số trẻ em, chăm sóc cho một
người già nằm bệnh trên đường phố và thuốc men cho một người đàn bà đang
chết đói và bị lao phổi. Mẹ bắt đầu mỗi ngày bằng việc rước lấy Chúa Giêsu
trong Bí Tích Thánh Thể và rồi lên đường, tay cầm tràng hạt, để t́m kiếm và
phục vụ Ngài nơi “thành phần không được chú ư tới, không được yêu thương,
không được chăm sóc”. Sau mấy tháng, Mẹ được những học sinh của Mẹ trước đó,
từng người một, đến tham gia cộng tác với Mẹ.
Ngày 7/10/1950, hội ḍng mới các Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái đă được chính thức
thành lập tại tổng giáo phận Calcutta. Vào đầu thập niên 1960, Mẹ Têrêsa bắt
đầu gửi các Nữ Tu của ḍng đến các vùng khác ở Ấn Độ. Sắc Lệnh Ca Ngợi do
Đức Thánh Cha Phaolô VI ban gửi cho hội ḍng của Mẹ đă khuyến khích Mẹ mở
một nhà ở Venezuela. Chẳng bao lâu sau những nhà khác được thành h́nh ở Rôma
và Tanzania, rồi dần dần ở hết mọi lục địa. Bắt đầu từ năm1980 và liên tục
qua thập niên 1990, Mẹ Têrêsa đă mở những nhà ở hầu hết mọi quốc gia cộng
sản, bao gồm cả ở Khối Sô Viết trước đây, Albania và Cuba.
Để đáp ứng hơn nữa cho cả nhu cầu về thể lư cũng như thiêng liêng, năm 1963
Mẹ Têrêsa đă lập hội ḍng Các Tu Huynh Thừa Sai Bác Ái, năm 1976 ngành chiêm
niệm cho các Nữ Tu, năm 1979 ngành Các Tu Huynh Chiêm Niệm, và năm 1984 Các
Cha Thừa Sai Bác Ái. Tuy nhiên, ơn linh hứng của Mẹ không giới hạn vào những
ai theo đuổi ơn gọi tu tŕ mà thôi. Mẹ đă thành lập tổ chức Đồng Cộng Tác
Viên của Mẹ Têrêsa cũng như Đồng Cộng Tác Viên Phục Vụ Bệnh Nhân và Đau Khổ,
những người thuộc nhiều tín ngưỡng và quốc tịch được Mẹ chia sẻ tinh thần
cầu nguyện của Mẹ, tinh thần giản dị đơn sơ của Mẹ, tinh thần hy sinh của Mẹ
và tinh thần tông đồ thực hiện những việc làm yêu thương khiêm tốn của Mẹ.
Tinh thần này sau đó đă tác động nên Các Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái. Để đáp
lại những lời yêu cầu của nhiều linh mục, vào năm 1981, Mẹ Têrêsa cũng đă
bắt đầu Phong Trào Chúa Kitô cho Các Linh Mục như là một “đường lối thánh
thiện nhỏ bé” cho những vị muốn tham dự vào đặc sủng và tinh thần của Mẹ.
Trong những năm phát triển nhanh này, thế giới bắt đầu chú ư tới Mẹ Têrêsa
và công việc Mẹ đă khởi công thực hiện. Nhiều bằng tưởng thưởng, bắt đầu là
Bằng Tưởng Thưởng Padmashiri của Ấn Độ vào năm 1962, rồi Giải Nobel Ḥa B́nh
năm 1979, đă tôn vinh công cuộc của Mẹ, khiến cho giới truyền thông lưu ư và
bắt đầu theo dơi các sinh hoạt của Mẹ. Mẹ đă lănh nhận cả các thứ giải
thưởng và sự chú ư của thế giới “v́ vinh quang Thiên Chúa và nhân danh kẻ
nghèo”.
Cuộc đời lao nhọc của Mẹ Têrêsa chứng tỏ cho thấy niềm vui của yêu thương,
sự cao cả và phẩm giá của hết mọi con người, giá trị của những điều nhỏ mọn
được trung thành thực hiện v́ yêu mến, và giá trị siêu việt của t́nh bằng
hữu với Thiên Chúa. Thế nhưng c̣n một phương diện anh hùng khác của người nữ
cao cả này đă được tỏ lộ chỉ sau khi người nữ ấy qua đời. Khuất kín trước
mắt của tất cả mọi người, ngay cả với những người thân cận nhất với Mẹ, đó
là đời sống nội tâm của Mẹ, đầy những cảm nghiệm đau thương sâu đậm liên lỉ
của t́nh trạng bị xa ĺa Thiên Chúa, thậm chí bị Ngài loại bỏ, mà lại cứ
càng khát vọng t́nh yêu của Ngài. Mẹ đă gọi cảm nghiệm nội tâm này là “bóng
tối tăm”. “Đêm tối đau thương” của linh hồn Mẹ, bắt đầu vào khoảng thời gian
Mẹ khởi sự hoạt động cho người nghèo và đă tiếp tục cho đến hết đời của Mẹ,
đă khiến Mẹ tiến đến chỗ được hiệp nhất sâu xa với Thiên Chúa hơn bao giờ
hết. Nhờ bóng tối tăm Mẹ đă tham dự một cách lạ lùng vào cơn khát của Chúa
Giêsu, vào khát vọng đau thương bừng cháy yêu thương của Người, và Mẹ đă
tham dự vào nỗi cô đơn hiu quạnh nội tâm của thành phần nghèo khổ.
Trong những năm cuối đời của ḿnh, mặc dù có những vấn đề trầm trọng về sức
khỏe, Mẹ Têrêsa vẫn tiếp tục coi sóc Hội Ḍng của Mẹ và đáp ứng các nhu cầu
của người nghèo cũng như của Giáo Hội. Vào năm 1997, con số nữ tu ḍng của
Mẹ đă gần 4 ngàn và đă thiết lập được 610 nhà ở 123 quốc gia trên thế giới.
Vào 3/1997, Mẹ đă chúc lành cho vị thừa kế mới được tuyển bầu của ḿnh làm
Bề Trên Tổng Quyền của Ḍng Thừa Sai Bác Ái, để rồi thực hiện nhiều chuyến
xuất ngoại hơn. Sau khi gặp Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II lần cuối cùng, Mẹ
đă trở về Calcutta và sống những tuần lễ cuối cùng của ḿnh tiếp đón các
khách viếng thăm và chỉ dẫn cho các Nữ Tu của Mẹ. Vào ngày 5/9, Mẹ đă chấm
dứt cuộc sống trần gian. Mẹ đă được vinh dự chôn cất theo quốc táng do chính
quyền Ấn Độ thực hiện, và thi thể của Mẹ được an táng tại Nhà Mẹ Ḍng Thừa
Sai Bác Ái. Mộ của Mẹ trở thành một địa điểm hành hương mau chóng và là nơi
cầu nguyện cho dân chúng thuộc đủ mọi tín ngưỡng, giầu cũng như nghèo. Mẹ
Têrêsa đă để lại chứng từ của một đức tin không lay chuyển, một niềm hy vọng
bất khuất và một đức ái phi thường. Việc Mẹ đáp lại lời kêu gọi của Chúa
Giêsu “hăy đến làm ánh sáng của Cha”, làm Mẹ trở thành một vị Thừa Sai Bác
Ái, thành “mẹ của người nghèo”, làm biểu hiện của ḷng xót thương trước thế
giới, và là một chứng từ sống động cho t́nh yêu khát khao của Thiên Chúa.
Không đầy hai năm sau khi qua đời, căn cứ vào tiếng tăm thánh thiện lẫy lừng
của Mẹ cùng với những thuận lợi xẩy ra, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă cho
phép tiến hành việc phong thánh cho Mẹ. Ngày 20/12/2002, Ngài đă chuẩn nhận
sắc lệnh về các nhân đức anh hùng và phép lạ của Mẹ.
(J.B. Đặng Minh An dịch, VCN 02.09.2016)